• image01
  • image01

Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
ĐỒNG NAI BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ GIAI ĐOẠN 2026-2030: CƠ HỘI MỞ RỘNG PHÁT TRIỂN CHO DOANH NGHIỆP VÀ HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ

UBND thành phố Đồng Nai vừa ban hành Chương trình phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030, cụ thể hóa Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 thành phố có khoảng 2.872 tổ hợp tác với 53.600 thành viên và 1.080 hợp tác xã với 69.500 thành viên, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác, liên kết chuỗi giá trị cho cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp hoạt động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn.

Mục tiêu gắn với việc làm, thu nhập và an sinh của người lao động

Theo Chương trình, mục tiêu tổng quát là phát triển khu vực kinh tế tập thể theo hướng năng động, hiệu quả, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế quốc dân.

Đáng chú ý, chương trình xác định rõ việc tăng cường khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước để thu hút đông đảo người dân tham gia hợp tác xã, đồng thời khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết chặt chẽ với hợp tác xã – đây chính là cầu nối quan trọng để người lao động, nhất là lao động ở khu vực nông thôn, vùng ven các khu công nghiệp, tiếp cận thị trường việc làm bền vững và nâng cao năng suất lao động.

Định hướng phát triển và chính sách hỗ trợ

Chương trình định hướng phát triển đa dạng mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số: trong nông nghiệp, phát triển hợp tác xã dịch vụ tổng hợp gắn với vùng nguyên liệu, sản xuất VietGAP, hữu cơ, tuần hoàn; trong công nghiệp - xây dựng, củng cố hợp tác xã hiện có, xây dựng liên hiệp hợp tác xã công nghiệp, dịch vụ công nghiệp tại các vùng làng nghề, cụm công nghiệp nông thôn; trong dịch vụ - môi trường, phát triển hợp tác xã vệ sinh môi trường, thu gom xử lý chất thải, nước sạch tại khu dân cư. Chương trình cũng thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng sàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng dùng chung, hỗ trợ hợp tác xã chuyển đổi số.

Về chính sách, Chương trình tập trung vào 4 nhóm giải pháp: (1) hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, triển khai Luật Hợp tác xã và Nghị định số 113/2024/NĐ-CP; (2) hỗ trợ tiếp cận vốn thông qua hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Chi nhánh Đồng Nai, góp phần đẩy lùi tín dụng đen; (3) đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho cán bộ, thành viên, người lao động của các tổ chức kinh tế tập thể; (4) ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, trong đó có tối thiểu 01 dự án đầu tư công hỗ trợ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Cơ hội cho doanh nghiệp, người lao động trong khu công nghiệp, khu kinh tế
Là địa bàn trọng điểm công nghiệp với hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế và lực lượng lao động lớn, thành phố Đồng Nai có điều kiện thuận lợi để kết nối kinh tế tập thể với nền sản xuất công nghiệp hiện đại. Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ là chính sách dành riêng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn mà còn mở ra những cơ hội thiết thực, trực tiếp cho cộng đồng doanh nghiệp và người lao động đang gắn bó với các KCN, KKT.

Đối với doanh nghiệp tại khu KCN, KKT

Thứ nhất, mở rộng kênh liên kết chuỗi giá trị, chủ động vùng nguyên liệu và nguồn cung dịch vụ. Với mục tiêu 50% hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị, các doanh nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, đồ uống trong KCN có thể ký kết bao tiêu, liên kết sản xuất với hệ thống hợp tác xã để có nguồn nguyên liệu ổn định, rõ nguồn gốc, đạt chuẩn truy xuất, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu ngày càng khắt khe. Đồng thời, các hợp tác xã dịch vụ công nghiệp, vệ sinh môi trường, nước sạch, vận tải, suất ăn công nghiệp phát triển theo Chương trình sẽ trở thành đối tác cung ứng dịch vụ đầu vào tin cậy, giá hợp lý cho chính các doanh nghiệp trong KCN, góp phần giảm chi phí logistics và chi phí vận hành.

Thứ hai, cơ hội tham gia thành viên hợp tác xã theo mô hình doanh nghiệp - hợp tác xã. Chương trình khuyến khích doanh nghiệp tham gia là thành viên hợp tác xã sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản. Đây là mô hình giúp doanh nghiệp vừa giữ vai trò dẫn dắt chuỗi, vừa tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho kinh tế tập thể, đồng thời chia sẻ rủi ro với nông dân, xây dựng chuỗi cung ứng bền vững ngay tại địa bàn thành phố và vùng lân cận.

Thứ ba, cơ hội tiếp cận thị trường lao động được đào tạo, có tổ chức. Các hợp tác xã việc làm, hợp tác xã dịch vụ công nghiệp được củng cố và phát triển sẽ trở thành kênh giới thiệu, cung ứng lao động có đào tạo, có kỷ luật cho doanh nghiệp trong KCN, nhất là lao động thời vụ, lao động kỹ thuật phổ thông tại các vùng nông thôn ven KCN. Chương trình ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, thành viên, người lao động, giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà doanh nghiệp tuyển dụng, giảm chi phí đào tạo lại.

Thứ tư, cơ hội từ liên hiệp hợp tác xã công nghiệp, dịch vụ công nghiệp. Chương trình đặt chỉ tiêu hình thành liên hiệp hợp tác xã công nghiệp hoặc dịch vụ công nghiệp tại các vùng có nhiều làng nghề, cụm công nghiệp nông thôn. Liên hiệp hợp tác xã với quy mô lớn, năng lực quản trị chuyên nghiệp sẽ đủ điều kiện tham gia đấu thầu các dự án, công trình, cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho các nhà máy trong KCN - phân khúc mà các hợp tác xã nhỏ lẻ trước đây khó tiếp cận. Các doanh nghiệp cũng có thể hợp tác gia công, nhận thầu phụ với các liên hiệp hợp tác xã này để linh hoạt hóa năng lực sản xuất.

Thứ năm, cơ hội trong chuỗi cung ứng xanh và phát triển bền vững. Xu hướng các KCN chuyển đổi sang sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn tạo nhu cầu lớn về thu gom, phân loại, tái chế chất thải, xử lý môi trường. Các hợp tác xã môi trường, nước sạch phát triển theo Chương trình có thể trở thành đối tác đồng hành của doanh nghiệp trong thực hiện trách nhiệm môi trường - xã hội (ESG), giúp doanh nghiệp đạt chuẩn xanh hóa sản xuất, nâng cao hình ảnh thương hiệu trước yêu cầu của đối tác và nhà nhập khẩu quốc tế.

Đối với người lao động:
Cơ hội việc làm ổn định, thu nhập bền vững. Người lao động, nhất là lao động nông thôn vùng ven các KCN, có thêm lựa chọn việc làm qua các mô hình hợp tác xã việc làm, hợp tác xã dịch vụ công nghiệp, hợp tác xã xây dựng - chia sẻ công việc, vừa làm nông nghiệp công nghệ cao theo chuỗi liên kết với doanh nghiệp, vừa tham gia cung ứng dịch vụ, gia công cho các nhà máy trong KCN. Thu nhập từ nhiều nguồn, có tổ chức bảo vệ quyền lợi, giúp người lao động bớt phụ thuộc vào việc làm thời vụ bấp bênh.

Cơ hội nâng cao tay nghề, trình độ quản lý. Chương trình dành nguồn lực đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về quản trị, tài chính, kế toán, xúc tiến thương mại, ứng dụng công nghệ cho cán bộ, thành viên, người lao động của tổ chức kinh tế tập thể. Đặc biệt, chỉ tiêu 30% giám đốc hợp tác xã là nữ mở ra cơ hội thăng tiến, khởi nghiệp rõ rệt cho lao động nữ - vốn chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động tại các KCN, KKT.

Cơ hội tiếp cận vốn, phòng tránh tín dụng đen. Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã được phát huy vai trò điều hòa vốn, xóa bỏ cho vay nặng lãi, bảo đảm an sinh xã hội. Đây là kênh tín dụng chính thống, lãi suất hợp lý dành cho công nhân, người lao động trong KCN - giải pháp thiết thực để người lao động tránh xa tệ nạn tín dụng đen, ổn định đời sống và yên tâm sản xuất.

Cơ hội an sinh tại chỗ. Các hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường, nước sạch, nhà trọ công nhân, dịch vụ tiêu dùng phát triển tại khu dân cư vùng ven sẽ cải thiện trực tiếp điều kiện sống, môi trường làm việc của công nhân, người lao động đang sinh sống quanh các KCN, KKT, góp phần thu hẹp khoảng cách an sinh giữa khu công nghiệp và khu dân cư.

Hợp tác xã chính là cầu nối quan trọng đưa kinh tế tập thể tham gia sâu vào chuỗi sản xuất công nghiệp: kết nối doanh nghiệp trong KCN với lao động và nguồn nguyên liệu ở nông thôn, đưa sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao vào hệ thống chế biến, logistics của KCN, đồng thời đưa dịch vụ của KCN lan tỏa ra vùng ven. Sự kết nối này giúp doanh nghiệp giảm chi phí, người lao động có thêm việc làm, còn địa phương hài hòa giữa phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn - mục tiêu xuyên suốt mà Chương trình hướng tới./.​

Trần Thương Nguyên

Các tin khác

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc


Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Xem thêm

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 26, đường 2A, KCN Biên Hòa II, phường Trấn Biên, Thành phố​ Đồng Nai.
Điện thoại​: (0251) 3892378 - Fax: (0251) 3892379

Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Việt Phương - Phó Trưởng ban ​phụ trách
​Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân Thành phố Đồng Nai​



Chung nhan Tin Nhiem Mang