• image01
  • image01

Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
CHÍNH PHỦ BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2025

Nghị định số 96/2026/NĐ-CP để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung quan trọng, tạo “khung thực thi" rõ ràng cho hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Đi kèm theo đó là Phụ lục hướng dẫn ban hành theo Nghị định này, đóng vai trò như một “bảng tra" nhằm cụ thể hóa các nhóm ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời chỉ ra các lĩnh vực được khuyến khích/ưu đãi đầu tư.

Trước hết, Nghị định số 96/2026/NĐ-CP xác định phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, bao gồm việc hướng dẫn các nội dung về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm đầu tư kinh doanh; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; thủ tục đầu tư; xúc tiến đầu tư; chế độ báo cáo; và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư. Điểm đáng chú ý là Nghị định không chỉ dừng ở nguyên tắc chung mà còn làm rõ cách hiểu và cách vận hành các khái niệm nền tảng như hồ sơ đầu tư. Theo đó, hồ sơ đầu tư được xác định là hồ sơ do nhà đầu tư hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập, có thể thực hiện dưới hình thức bản điện tử; đồng thời hồ sơ phải phản ánh đầy đủ thành phần theo quy định và phục vụ cho các bước thủ tục như chấp thuận/điều chỉnh chủ trương đầu tưcấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cũng như các thủ tục tương ứng khác.

Nghị định cũng thể hiện rõ yêu cầu về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư thông qua cơ chế tiếp nhận, thẩm định, lấy ý kiến và phê duyệt theo thẩm quyền. Ở các trường hợp cụ thể, đối với dự án triển khai trong phạm vi được phân cấp theo mô hình khu (như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế). Nghị định nêu quy trình theo hướng bảo đảm có đầu mối tiếp nhận hồ sơ và tổ chức lấy ý kiến các cơ quan có liên quan trong thời hạn nhất định; sau đó cơ quan quản lý khu thực hiện tổng hợp để trình/ban hành quyết định theo quy định. Quan trọng hơn, Nghị định nhấn mạnh tới yếu tố khu vực có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh. Cụ thể, khi dự án thực hiện tại các địa bàn thuộc phạm vi này, việc lấy ý kiến trong quá trình thẩm định/chuẩn bị chủ trương đầu tư phải có thêm ý kiến của cơ quan liên quan theo thẩm quyền (được dẫn chiếu trong Nghị định). Cùng với việc xác định phạm vi này gồm nhiều dạng khu vực như địa bàn vùng, biên giới, ven biển và các khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, nội dung của Nghị định góp phần giảm rủi ro “lệch thủ tục" khi doanh nghiệp triển khai dự án ở khu vực nhạy cảm, bởi yêu cầu thẩm định có yếu tố đặc thù sẽ tác động trực tiếp đến tiến độ và nội dung hồ sơ.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng khẳng định nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định, theo hướng dự án thuộc các trường hợp, địa bàn hoặc điều kiện nhất định sẽ được hưởng ưu đãi tương ứng; đồng thời có nội dung định hướng xử lý trong bối cảnh quy định ưu đãi có thể thay đổi. Về mặt thực thi, nhà đầu tư cần hiểu rõ ưu đãi không phải “tự động" theo mong muốn, mà gắn với việc dự án thỏa mãn tiêu chí, thuộc danh mục lĩnh vực/địa bàn và đáp ứng điều kiện theo hồ sơ và quy trình thẩm định. Do đó, Nghị định 96/2026/NĐ-CP đóng vai trò như “lý thuyết thủ tục" và “nguyên tắc áp dụng", còn phần “đối chiếu danh mục" nằm chủ yếu ở Phụ lục kèm theo.

Chính vì vậy, Phụ lục hướng dẫn theo Nghị định 96/2026/NĐ-CP trở thành tài liệu có giá trị thực tiễn đặc biệt. Phụ lục được trình bày theo cấu trúc danh mục, gồm nhóm ngành, nghề nhà đầu tư nước ngoài không được tiếp cận thị trường, nhóm ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện, và nhóm ngành, nghề được ưu đãi/khuyến khích đầu tư (tùy theo nội dung từng phần của phụ lục). Ở nhóm “không được tiếp cận thị trường", phụ lục liệt kê cụ thể những lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài bị loại trừ, qua đó định hướng doanh nghiệp tránh lập dự án theo hướng không phù hợp phạm vi chính sách.

Ví dụ, theo danh mục được nêu, có các lĩnh vực như: kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện độc quyền nhà nước trong lĩnh vực thương mạihoạt động báo chí và hoạt động thu thập tin tức dưới mọi hình thứcdanh bắt hoặc khai thác hải sảndịch vụ điều tra và an ninh; một số dịch vụ hành chính tư pháp (bao gồm dịch vụ giám định tư pháp, thừa phát lại, đấu giá tài sản, công chứng, dịch vụ của quản tài viên); dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồngđầu tư xây dựng hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầngdịch vụ thu gom rác thải trực tiếp từ các hộ gia đìnhdịch vụ thăm dò ý kiến công chúng (thăm dò dư luận)dịch vụ nổ mìn; các hoạt động liên quan nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụngdịch vụ bưu chính công ích; hoặc các hoạt động như kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa và kinh doanh tạm nhập tái xuất. Phụ lục còn tiếp tục mở rộng danh mục trong cùng phần này, phản ánh định hướng quản lý chặt chẽ đối với các lĩnh vực nhạy cảm về an ninh, trật tự xã hội, hoặc liên quan độc quyền và quyền quản lý đặc thù của Nhà nước.

Đối với nhóm tiếp cận thị trường có điều kiện, phụ lục cũng chỉ ra nhiều lĩnh vực cụ thể mà nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia nhưng phải đáp ứng điều kiện đầu tư/kinh doanh theo quy định tương ứng. Chẳng hạn, phụ lục nêu nhóm như: sản xuất và phân phối các sản phẩm văn hóa (bao gồm cả băng ghi hình)sản xuất, phân phối, chiếu các chương trình tivi và các tác phẩm ca nhạc, sân khấu, điện ảnhcung cấp dịch vụ phát thanh và truyền hìnhbảo hiểm, ngân hàng và kinh doanh chứng khoán và các dịch vụ khác liên quan đến bảo hiểm, ngân hàng, kinh doanh chứng khoándịch vụ bưu chính, viễn thôngdịch vụ quảng cáoin ấn và phát hành xuất bản phẩmđo đạc và lập bản đồdịch vụ chụp ảnh từ trên caodịch vụ giáo dục; một số hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiênthủy điện, điện gió ngoài khơi và năng lượng hạt nhân; hoặc các lĩnh vực như vận tải hàng hóa và hành khách theo nhiều phương thức. Đồng thời, phụ lục còn nêu nhóm có tính chất đặc thù như kinh doanh casinodịch vụ bảo vệxây dựng, vận hành và quản lý cảng sông/cảng biển và sân baydịch vụ pháp lýdịch vụ thú ydịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật, hoặc dịch vụ du lịch. Việc liệt kê theo nhóm như vậy giúp doanh nghiệp hình dung trước “điểm vướng" điều kiện: không phải cứ có nhu cầu là triển khai được ngay, mà phải kiểm tra điều kiện cụ thể tương ứng với từng lĩnh vực.

Một điểm thực tế nữa là phụ lục dành cho nhóm “được ưu đãi/khuyến khích" cũng nhấn mạnh đến các định hướng chính sách. Trong phần nội dung được trích, các nhóm được quan tâm nổi bật bao gồm các lĩnh vực gắn với công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp môi trường, và một số hạng mục hạ tầng/dịch vụ có tính lan tỏa. Chẳng hạn, phụ lục nêu nhiều nội dung liên quan xây dựng nhà ở/ký túc xá cho công nhân hoặc đối tượng chính sách xã hội, đầu tư xử lý sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, áp dụng công nghệ giảm thiểu phát thải; đầu tư trung tâm hội chợ triển lãm, trung tâm logistics, cảng cạn, kho hàng hóa, siêu thị, trung tâm thương mại; hoặc đầu tư thiết bị quan trắc môi trường, thiết bị xử lý nước thải sinh hoạt, cùng các nội dung về công nghệ sạch, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo. Nhìn từ cấu trúc danh mục, có thể thấy Nhà nước có định hướng ưu tiên các dự án vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa góp phần nâng cấp năng lực công nghệ, bảo vệ môi trường và tạo nền tảng hạ tầng cho tăng trưởng bền vững.

Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thu hút đầu tư bằng các dòng vốn chất lượng cao, sự ra đời của Nghị định số 96/2026/NĐ-CP đóng vai trò như một “bản đồ thực thi" quan trọng. Nghị định giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý có cách hiểu thống nhất về mục tiêu, điều kiện, thủ tục và quy trình xử lý hồ sơ đầu tư. Nhờ đó, tính minh bạch và dự đoán được của môi trường đầu tư được nâng lên, giảm rủi ro phát sinh do khác biệt trong cách áp dụng pháp luật.

Không chỉ là văn bản hướng dẫn, Nghị định còn góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư theo hướng trọng tiêu chí: dự án phù hợp quy định, đáp ứng điều kiện và được thẩm định theo cơ chế rõ ràng. Đặc biệt, các nội dung liên quan đến khu vực có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh tạo “khung kiểm soát" cần thiết để Nhà nước vừa bảo đảm an toàn, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

Trong thực tiễn, khi doanh nghiệp chủ động đối chiếu Nghị định cùng các phụ lục hướng dẫn ngành nghề, dự án sẽ chuẩn bị hồ sơ đúng ngay từ đầu, từ đó rút ngắn thời gian triển khai. Đây là yếu tố trực tiếp giúp tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo niềm tin cho nhà đầu tư trong và ngoài nước trong giai đoạn hiện nay./.​

260331_NĐ_96_CP Phụ lục hgdẫn Luật Đầu tư 2025.pdf260331_NĐ_96_CP hg dẫn Luật Đầu tư 2025.pdf


Trần Thương Nguyên

Các tin khác

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc


Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Xem thêm

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Save Conflict. Your changes conflict with those made concurrently by another user. If you want your changes to be applied, click Back in your Web browser, refresh the page, and resubmit your changes.Trong ngày:
Tất cả:

BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 26, đường 2A, KCN Biên Hòa II, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai.
Điện thoại​: (0251) 3892378 - Fax: (0251) 3892379

Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Việt Phương - Phó Trưởng ban ​phụ trách
​Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai​



Chung nhan Tin Nhiem Mang