• image01
  • image01

Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
KINH TẾ XANH, KINH TẾ CÁC-BON THẤP, KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI LÀ XU HƯỚNG TẤT YẾU ĐỂ THỰC HIỆN CAM KẾT “NET ZERO”

Phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 là cam kết của Chính phủ Việt Nam được công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Biến đổi Khí hậu của Liên Hợp Quốc (COP26), diễn ra tại Glasgow, Scotland vào tháng 11/2021, đánh dấu một bước tiến thiết yếu trong việc thực hiện Thỏa thuận Paris.​

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến các chương trình phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính,… trong đó có mô hình khu công nghiệp sinh thái, được triển khai thí điểm từ những năm 2014 (do Ban Quản lý dự án thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) phối hợp với Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thực hiện Dự án Triển khai khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình khu công nghiệp sinh thái toàn cầu) và đã từng bước thiết lập, hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho loại hình KCN này phát triển. Đến nay, Việt Nam đã có nhiều KCN chuyển đổi hoạt động theo mô hình khu công nghiệp sinh thái; tuy nhiên quá trình xác lập lộ trình cụ thể cho sự vận hành và phát triển các khu công nghiệp sinh thái vẫn còn không ít khó khăn.

Trong giai đoạn 2015-2019 và 2020-2024, Bộ Tài chính cùng với UNIDO đã thực hiện thí điểm chuyển đổi một số KCN thông thường sang mô hình khu công nghiệp sinh thái. Các kết quả từ năm 2020 đến tháng 5/2024 trong nhân rộng mô hình khu công nghiệp sinh thái tại 4 địa phương: Hải Phòng, Đồng Nai, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh thu được kết quả đáng khích lệ: hỗ trợ được 90 doanh nghiệp với 889 giải pháp hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) tại 4 KCN: Hiệp Phước (thành phố Hồ Chí Minh), Amata (Đồng Nai), Đình Vũ (Hải Phòng) và Hòa Khánh (Đà Nẵng), trong đó có 429 giải pháp đã được thực hiện. Các giải pháp RECP đã giúp các doanh nghiệp giảm mức tiêu thụ điện 14.378 MWh/năm, giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch 264.127 GJ/năm, giảm lượng nước tiêu thụ 278.690 m3/năm, giảm phát thải khí nhà kính 55.663 tấn CO2 tương đương/năm và đem lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp,...​

Amata-bien-hoa.jpg​​

Hình 1: Amata, một trong ba KCN được chọn thí điểm khu công nghiệp sinh thái theo hướng toàn cầu


UBN​D tỉnh Đồng Nai cũng đã ban hành các kế hoạch nhằm triển khai các giải pháp phòng ngừa, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn,… trong đó có Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 19/02/2024 về việc phê duyệt Đề án giảm thiểu khí các-bon trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Lộ trình và cách thức thực hiện trong việc cắt giảm phát thải trên địa bàn toàn tỉnh như sau: Giảm 20% (Giai đoạn 1: 2025 - 2030) và đạt phát thải khí nhà kính bằng 0 (giai đoạn 4: 2045-2050).

Năm 2025, Đồng Nai đã chủ trì, phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước tổ chức nhiều chương trình, diễn đàn về “Hợp tác tăng trưởng xanh giữa tỉnh Đồng Nai và thành phố Kobe, Nhật Bản năm 2025", “Chiến lược phát triển năng lượng sạch và khung đầu tư cho các KCN cấp tỉnh",… 

Tap the.jpg

Hình 2: Các đại biểu tham dự Hội thảo “Chiến lược phát triển năng lượng sạch và khung đầu tư cho các KCN cấp tỉnh"


Đầu năm 2026, UBND tỉnh Đồng Nai tiếp tục ban hành Kế hoạch thực hiện chuyển hóa các KCN hiện hữu thành KCN xanh, KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo đề xuất của Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế. Đây là cơ hội rất lớn và sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp; cụ thể: Về kinh tế (Giảm 10-20% chi phí năng lượng; Giảm 20-30% nước sử dụng thông qua “tái sử dụng"; Giảm chi phí xử lý môi trường; Tăng tuổi thọ thiết bị và hiệu suất sản xuất; Dễ tiếp cận vốn tín dụng xanh, quỹ khí hậu, quỹ JICA, WB, GCF); Về thương hiệu và thị trường (Đáp ứng tiêu chuẩn CBAM, EVFTA, CPTPP; Trở thành nhà cung cấp cấp một cho các tập đoàn đa quốc gia; Có lợi thế trong đấu thầu quốc tế và thị trường carbon); Về xã hội-môi trường (Giảm phát thải CO2; Tạo không gian làm việc an toàn, hài hòa; Góp phần thực hiện cam kết Net Zero 2050);… Hơn nữa, ngày 22/12/2024 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây cũng là thuận lợi lớn để thúc đẩy hình thành hệ thống kinh tế xanh tại các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, các rào cản pháp lý để thúc đẩy hình thành các KCN xanh, khu công nghiệp sinh thái vẫn còn khá lớn, cụ thể:

(1) - Tái sử dụng chất thải và quản lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại tại các KCN: Tái sử dụng chất thải trong các KCN thực sự rất cần thiết và được Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 khuyến khích nhưng khi các doanh nghiệp triển khai thực tế thì gặp rất nhiều khó khăn liên quan đến rào cản về cơ chế chính sách pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hiện nay mặc dù Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế đã có quy định và định hướng các KCN, các doanh nghiệp triển khai dự án theo hướng cộng sinh công nghiệp để tối ưu hóa việc sử dụng hoặc tái sử dụng yếu tố đầu vào, đầu ra như nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu và yếu tố khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Hơn nữa, khoản 3 Điều 47 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định cụ thể: “Khuyến khích việc tái sử dụng chất thải, áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn". Tuy nhiên, khi thực hiện việc trao đổi chất thải trong cộng sinh công nghiệp giữa các doanh nghiệp với nhau phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch của KCN, phù hợp với ngành nghề được liệt kê trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (hoặc giấy phép môi trường) của KCN đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt,… Do đó sẽ gây mất nhiều thời gian để điều chỉnh, xin cấp phép hàng loạt các hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp, thậm chí không được chấp thuận (do còn nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, kiểm soát và phân loại, xác định chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại); điều nay tạo rào cản trong thực hiện thủ tục hành chính để thực hiện cộng sinh công nghiệp và do đó khó định hướng tiến đến mô hình KTTH, KCN sinh thái như chủ trương đã đề ra.

(2) Tái sử dụng nước thải: Theo quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường quy định: “Nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và mục đích sử dụng nước" và “Nhà nước có chính sách xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý và thu hồi năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; áp dụng công nghệ xử lý chất thải tiên tiến, thân thiện môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất nhằm giảm thiểu, kiểm soát chất thải thứ cấp phát sinh, hạn chế tối đa lượng chất thải rắn phải chôn lấp; khuyến khích đồng xử lý chất thải, sử dụng chất thải làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thay thế". Đồng thời, khoản 3 Điều 74 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định “3. Nước thải được tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành phù hợp với mục đích sử dụng nước. Nước thải khi chuyển giao để tái sử dụng thì phải đáp ứng yêu cầu tại khoản 4 Điều này. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc quy định, hướng dẫn về tái sử dụng nước thải cụ thể như sau: a) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật hoặc quy định khi sử dụng nước thải sau xử lý đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường làm nước tưới cây; nước thải từ hoạt động chăn nuôi, xử lý phụ phẩm nông nghiệp tái sử dụng cho mục đích khác. Trường hợp chưa ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật thì áp dụng tiêu chuẩn của một trong các nước thuộc Nhóm các nước công nghiệp phát triển".

Mặc dù đã có nhiều quy định khuyến khích, cho phép trên cơ sở đáp ứng các quy định pháp luật như trên nhưng hiện các doanh nghiệp cũng không thể tái sử dụng nước thải sau xử lý đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp theo QCVN 40:2011/BTNMT (cột A) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt theo QCVN 08-MT:2023/BTNMT để phục vụ cho các hoạt động của nhà máy (như tưới cây). Lý do: hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn chưa ban hành quy chuẩn kỹ thuật hoặc hướng dẫn kỹ thuật, quy định liên quan đến tái sử dụng cho mục đích nước tưới cây; đồng thời các cơ quan vẫn chưa có hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn của một trong các nước thuộc Nhóm các nước công nghiệp phát triển là tiêu chuẩn của nước nào… Nhiều địa phương và doanh nghiệp đã có báo cáo kiến nghị đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường; tuy nhiên đến nay vẫn chưa nhận được văn bản trả lời thỏa đáng từ các cơ quan có thẩm quyền. (Ghi chú: trước đây doanh nghiệp được phép tái sử dụng nước thải cho mục địch tưới cây nếu chất lượng nước thải đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và đạt QCVN 39:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu, tuy nhiên Quy chuẩn này đã hết hiệu lực).

(3) Các tiêu chí hình thành KCN sinh thái còn khá cao, chưa phù hợp thực tế: Hầu hết các KCN Đồng Nai đã đi vào hoạt động từ trước những năm 2000 (Đến nay, Đồng Nai có 58 KCN được thành lập, có 42 KCN đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy 76%), do đó đối với hầu hết các KCN đang hoạt động hiện nay rất khó đạt được các tiêu chí để chuyển đổi thành KCN sinh thái theo quy định tại khoản 3 ​Điều 37 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, trong đó có các tiêu chí yêu cầu: “a) Tỷ lệ tối thiểu tổng diện tích đất cây xanh, giao thông, các khu kỹ thuật và hạ tầng xã hội dùng chung trong khu công nghiệp đạt 25% trong quy hoạch xây dựng khu công nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng; b) Có giải pháp đảm bảo nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động làm việc trong khu công nghiệp". Ngoài ra, khoản 1 và khoản 2 ​Điều 37 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP​ yêu cầu Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN và các doanh nghiệp trong KCN phải đáp ứng tiêu chí "a) Tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về xây dựng, pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật về lao động trong vòng 03 năm trước thời điểm đăng ký chứng nhận khu công nghiệp/ doanh nghiệp sinh thái”  là điều không thể, chưa phù hợp với thực tế (thay vì chủ yếu chỉ cần tập trung vấn đề  chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và xác định trong vòng 01 năm là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012).

Khung chinh sach KCNST.jpg

Hình 3: Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế và Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT ngày 24-01-2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) hướng dẫn xây dựng khu công nghiệp sinh thái hiện là khung pháp lý cao nhất cho thúc đẩy hình thành khu công nghiệp sinh thái Việt Nam

Đối với việc thành lập các KCN sinh thái “mới ngay từ ban đầu" cũng có phần thuận lợi hơn, tuy nhiên quá trình triển khai thực hiện sẽ còn gặp rất nhiều vướng mắc, đòi hỏi các tiêu chí nêu trên cần được “đồng bộ" trong quy định pháp lý về quản lý chất thải và có hướng dẫn cụ thể của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (theo khoản 2 Điều 58 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm “hướng dẫn việc xử lý, tái chế, tái sử dụng, phế liệu trong KCN"). Bên cạnh đó, việc chưa có hướng dẫn chi tiết về cách thức tiếp cận, danh mục phân loại xanh quốc gia, hệ thống phân ngành kinh tế xanh với các tiêu chí định tính, định lượng về môi trường (làm cơ sở xác định và phân loại các hoạt động kinh tế, gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng trong triển khai, thống kê đầy đủ nguồn lực tín dụng cho các mục tiêu tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường) và thể chế, chính sách hỗ trợ đầu tư cho tăng trưởng xanh (nhất là chính sách để thúc đẩy thị trường trái phiếu xanh, thị trường Các-bon) cũng là những khó khăn, vướng mắc của các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN. Do đó, tháng 11/2025, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế đã tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản gửi Bộ Tài chính góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ, trong đó có đề xuất tháo gỡ các vướng mắc như đã đặt ra.

Hy vọng 2026 sẽ là năm có nhiều đột phá, thúc đẩy thành công chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thay đổi sâu rộng về nhận thức của cán bộ, công chức và các doanh nghiệp trong việc phát triển kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp nhằm đưa cam kết của Chính phủ Việt Nam tại COP26 trở thành hiện thực trong thời gian tới./.



Nguyễn Thành Trung

Các tin khác

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc


Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Tiếp và làm việc với Đoàn công tác thành phố Cockburn, Australia
Xem thêm

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 26, đường 2A, KCN Biên Hòa II, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai.
Điện thoại​: (0251) 3892378 - Fax: (0251) 3892379

Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Việt Phương - Phó Trưởng ban ​phụ trách
​Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai​



Chung nhan Tin Nhiem Mang